Chiến lược chuyển đổi số và hoạt động kinh tế liên hệ thế nào?
- Chuyển đổi số chỉ tạo giá trị kinh tế khi thay đổi cách hoạt động được thực hiện
- Ưu tiên hạ tầng, dữ liệu và thể chế giúp giảm chi phí giao dịch của nền kinh tế
- Ưu tiên chuyển đổi số doanh nghiệp và ngành kinh tế gắn trực tiếp với năng suất
- Ưu tiên nền tảng và giao dịch số mở rộng thị trường và tạo mô hình kinh doanh mới
- Ưu tiên kỹ năng số quyết định công nghệ có chuyển thành năng suất hay không
- Ưu tiên phải được đo bằng kết quả kinh tế chứ không chỉ bằng tiến độ số hóa
Ở cấp quốc gia, cách tiếp cận này được thể hiện khá rõ trong Chiến lược phát triển kinh tế số và xã hội số của Việt Nam: kinh tế số được xác định là hoạt động kinh tế sử dụng công nghệ và dữ liệu số làm đầu vào quan trọng, môi trường số làm không gian hoạt động, qua đó tăng năng suất lao động, đổi mới mô hình kinh doanh và tối ưu cơ cấu kinh tế.
Chuyển đổi số chỉ tạo giá trị kinh tế khi thay đổi cách hoạt động được thực hiện
Quan hệ giữa chuyển đổi số và kinh tế trước hết là quan hệ giữa năng lực số và kết quả kinh tế. Một hệ thống dữ liệu, nền tảng hay công cụ tự động hóa tự nó chưa tạo ra tăng trưởng. Giá trị xuất hiện khi nó làm thay đổi một hoạt động kinh tế cụ thể.
Trong sản xuất, dữ liệu thời gian thực có thể giúp lập kế hoạch chính xác hơn, kiểm soát tồn kho hoặc giảm thời gian ngừng máy. Trong thương mại, nền tảng số làm giảm khoảng cách giữa người bán và người mua. Trong quản trị doanh nghiệp, quy trình số rút ngắn thời gian xử lý và tạo dữ liệu để ra quyết định. Trong dịch vụ, khả năng cung cấp trực tuyến giúp một đơn vị phục vụ khách hàng mà không phụ thuộc hoàn toàn vào địa điểm vật lý.
Cơ chế chung có thể hiểu theo chuỗi:
Hạ tầng và công nghệ số → dữ liệu và quy trình số → thay đổi cách sản xuất, giao dịch và quản trị → thay đổi năng suất, chi phí, doanh thu hoặc cấu trúc thị trường.
Vì vậy, chiến lược chuyển đổi số cần bắt đầu từ bài toán kinh tế cần cải thiện rồi mới xác định công nghệ phù hợp. Nếu thứ tự bị đảo ngược, tổ chức dễ đạt mục tiêu triển khai kỹ thuật nhưng không tạo được hiệu quả kinh tế tương ứng.

Ưu tiên hạ tầng, dữ liệu và thể chế giúp giảm chi phí giao dịch của nền kinh tế
Một hoạt động kinh tế số chỉ vận hành hiệu quả khi doanh nghiệp và người dân có thể kết nối, nhận diện, trao đổi dữ liệu, ký kết và thanh toán với mức độ tin cậy đủ cao. Do đó, hạ tầng số, dữ liệu và thể chế không chỉ là điều kiện công nghệ mà còn là hạ tầng giao dịch kinh tế.
Kết nối ổn định giúp doanh nghiệp đưa các quy trình lên môi trường số. Dữ liệu có cấu trúc và khả năng chia sẻ giúp giảm việc nhập lại thông tin, đối chiếu thủ công hoặc xử lý nhiều lần cùng một hồ sơ. Các cơ chế về giao dịch điện tử, hợp đồng điện tử, bảo vệ dữ liệu và cạnh tranh tạo cơ sở để một giao dịch số có thể được sử dụng trong thực tế kinh doanh chứ không chỉ tồn tại về mặt kỹ thuật.
Đây cũng là lý do chiến lược của Việt Nam đặt thể chế, hạ tầng, nhân lực, người dân và doanh nghiệp vào nhóm nền móng của kinh tế số, đồng thời yêu cầu hoàn thiện hành lang cho nền tảng số, dịch vụ số và giao dịch trực tuyến.
Tác động kinh tế của nhóm ưu tiên này thường không biểu hiện thành một nguồn doanh thu riêng. Nó xuất hiện gián tiếp qua thời gian giao dịch ngắn hơn, khả năng phối hợp tốt hơn, giảm bất cân xứng thông tin và giảm chi phí để các chủ thể tham gia thị trường.
Giới hạn cần lưu ý là số hóa một quy trình kém hiệu quả không tự động làm nó trở nên tối ưu. Nếu dữ liệu không chuẩn, quy trình còn nhiều tầng trung gian hoặc quy định chưa tương thích với giao dịch số, đầu tư công nghệ có thể chỉ chuyển sự phức tạp từ môi trường giấy sang môi trường điện tử.
Ưu tiên chuyển đổi số doanh nghiệp và ngành kinh tế gắn trực tiếp với năng suất
Nếu hạ tầng tạo điều kiện, doanh nghiệp và các ngành kinh tế mới là nơi giá trị chuyển đổi số được chuyển thành sản lượng và giá trị gia tăng.
Công nghệ số có thể tác động đến năng suất qua ba cơ chế chính. Thứ nhất, tự động hóa thay thế những thao tác lặp lại và giảm thời gian xử lý. Thứ hai, dữ liệu cải thiện dự báo, phân bổ nguồn lực và kiểm soát vận hành. Thứ ba, kết nối số phối hợp các bộ phận, nhà cung cấp và khách hàng nhanh hơn so với những quy trình rời rạc.
Điểm quan trọng là năng suất không tăng chỉ nhờ mua công nghệ. Doanh nghiệp thường phải thay đổi đồng thời quy trình, trách nhiệm công việc, cách đo hiệu quả và kỹ năng của nhân sự. OECD cũng nhìn nhận chuyển đổi số là quá trình liên ngành có khả năng tạo cơ hội về năng suất và mô hình kinh doanh, nhưng đòi hỏi chính sách phối hợp thay vì xử lý công nghệ như một lĩnh vực độc lập.
Ở cấp chiến lược quốc gia, việc đặt mục tiêu tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành cho thấy chuyển đổi số không được giới hạn ở ngành công nghệ thông tin. Quyết định 411/QĐ-TTg đặt mục tiêu cho năm 2030 là kinh tế số đạt 30% GDP và kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%. Đây là các mục tiêu chiến lược, không phải số liệu khẳng định kết quả thực tế đã đạt được.
Vì vậy, một ưu tiên chuyển đổi số có giá trị kinh tế cao khi nó đi vào những quy trình ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng, thời gian cung ứng hoặc khả năng sử dụng tài sản, thay vì chỉ số hóa các hoạt động hành chính ngoại vi.
Ưu tiên nền tảng và giao dịch số mở rộng thị trường và tạo mô hình kinh doanh mới
Tác động thứ hai của chuyển đổi số không phải làm cùng một việc nhanh hơn mà là cho phép thực hiện những hoạt động kinh tế trước đây khó hoặc không khả thi.
Nền tảng số có thể kết nối một lượng lớn người mua, người bán, nhà cung cấp dịch vụ hoặc đối tác mà không đòi hỏi mỗi bên phải xây dựng hạ tầng giao dịch riêng. Thương mại điện tử giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng ngoài phạm vi địa lý truyền thống. Hợp đồng, thanh toán và các quy trình trực tuyến làm cho một phần lớn chuỗi giao dịch có thể diễn ra từ xa.
Từ đó xuất hiện hai loại Information Gain kinh tế khác nhau. Hiệu quả số tạo ra giá trị bằng cách giảm chi phí của hoạt động hiện hữu; tăng trưởng số tạo giá trị bằng cách mở thêm khách hàng, dịch vụ, kênh phân phối hoặc mô hình kinh doanh.
Chiến lược phát triển kinh tế số của Việt Nam cũng phân biệt kinh tế số ICT, kinh tế số nền tảng và kinh tế số ngành. Trong đó, nền tảng số được xem như một động lực giúp thúc đẩy hoạt động số trong từng ngành, thay vì chỉ là một thị trường công nghệ riêng biệt.
Tuy nhiên, hiệu ứng nền tảng đi kèm một giới hạn quan trọng: quy mô lớn có thể tạo lợi thế mạng lưới và đồng thời làm gia tăng sức mạnh thị trường của một số chủ thể. Vì vậy, chuyển đổi số gắn với tăng trưởng cần đi cùng các nguyên tắc về cạnh tranh, khả năng tiếp cận và trách nhiệm của nền tảng. Nếu không, tăng hiệu quả giao dịch ở cấp hệ thống có thể đi kèm sự phụ thuộc quá mức của doanh nghiệp vào một số kênh trung gian.
Ưu tiên kỹ năng số quyết định công nghệ có chuyển thành năng suất hay không
Công nghệ chỉ trở thành một yếu tố sản xuất hiệu quả khi người lao động biết sử dụng nó trong công việc. Do đó, nhân lực số nằm giữa đầu tư công nghệ và kết quả kinh tế.
Kỹ năng cần thiết không chỉ thuộc về đội ngũ công nghệ thông tin. Người quản lý phải biết sử dụng dữ liệu để ra quyết định; nhân viên vận hành phải hiểu quy trình số; bộ phận kinh doanh phải thích nghi với khách hàng và kênh phân phối số; người lao động trong từng ngành phải biết kết hợp kiến thức chuyên môn với công cụ số phù hợp.
Điều này giải thích vì sao chuyển đổi số có thể tạo kết quả rất khác nhau giữa hai doanh nghiệp sử dụng công nghệ tương tự. Doanh nghiệp có năng lực tổ chức và kỹ năng phù hợp có thể tái thiết kế quy trình quanh công nghệ. Doanh nghiệp thiếu năng lực này thường chỉ đặt một lớp công cụ mới lên cách làm cũ.
Chiến lược quốc gia về kinh tế số cũng gắn chuyển đổi số ngành với đào tạo kỹ năng số chuyên ngành cho lực lượng lao động, thay vì coi đào tạo công nghệ là nhiệm vụ tách biệt khỏi sản xuất kinh doanh.
Về kinh tế, đây còn là vấn đề phân bổ lao động. Khi tự động hóa làm giảm nhu cầu đối với một số tác vụ, giá trị của nguồn nhân lực phải dịch chuyển sang những công việc đòi hỏi phân tích, phối hợp, sáng tạo hoặc tương tác mà công nghệ hỗ trợ tốt hơn là thay thế hoàn toàn. Vì thế, một chiến lược chỉ đầu tư vào hệ thống mà không đầu tư vào khả năng thích ứng của người lao động có thể tạo khoảng cách giữa năng lực kỹ thuật và năng lực khai thác kinh tế.
Ưu tiên phải được đo bằng kết quả kinh tế chứ không chỉ bằng tiến độ số hóa
Mối liên hệ giữa chiến lược chuyển đổi số và hoạt động kinh tế trở nên rõ nhất ở hệ thống đo lường. Nếu mục tiêu là tạo giá trị kinh tế, KPI không nên dừng ở số nền tảng triển khai, số tài khoản được tạo hoặc số quy trình được đưa lên mạng.
Mỗi chương trình cần nối một chỉ số chuyển đổi với một chỉ số kinh tế tương ứng. Chẳng hạn, tự động hóa quy trình nên được kiểm tra qua thời gian xử lý, chi phí trên mỗi giao dịch hoặc năng suất lao động; số hóa bán hàng cần gắn với tỷ lệ giao dịch trực tuyến, phạm vi khách hàng hoặc doanh thu qua kênh số; nền tảng dữ liệu cần được đánh giá qua mức độ tái sử dụng dữ liệu, chất lượng quyết định hoặc giảm chi phí phối hợp.
Ở cấp quốc gia, Quyết định 411/QĐ-TTg không chỉ đặt mục tiêu về tỷ trọng kinh tế số mà còn sử dụng các chỉ tiêu như thương mại điện tử, hợp đồng điện tử, mức sử dụng nền tảng số của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời yêu cầu đo lường các chỉ tiêu kinh tế số ở cấp quốc gia, ngành và địa phương.
Cách đo này giúp phân biệt ba tình huống dễ bị đánh đồng:
· Số hóa đầu vào: Có thêm công nghệ hoặc dữ liệu
· Thay đổi hoạt động: Quy trình sản xuất, quản trị hoặc giao dịch thực sự thay đổi
· Tạo kết quả kinh tế: Năng suất, chi phí, doanh thu, thị trường hoặc giá trị gia tăng được cải thiện
Một chiến lược có thể đạt tầng thứ nhất nhưng chưa đạt hai tầng sau. Vì vậy, quyết định đầu tư tiếp hay điều chỉnh cần dựa trên đường truyền từ năng lực số đến kết quả kinh tế, không dựa đơn thuần vào mức độ hiện đại của công nghệ.
Chiến lược chuyển đổi số và hoạt động kinh tế gắn kết với nhau qua một chuỗi nhân quả: xây dựng hạ tầng, dữ liệu và thể chế để tạo khả năng giao dịch; đưa công nghệ vào doanh nghiệp và từng ngành để nâng năng suất; sử dụng nền tảng số để mở rộng thị trường và mô hình kinh doanh; phát triển kỹ năng để con người khai thác được công nghệ; cuối cùng đo toàn bộ quá trình bằng kết quả kinh tế.
Do đó, ưu tiên đúng không phải là “số hóa càng nhiều càng tốt”. Ưu tiên có giá trị là những thay đổi số giải quyết được một điểm nghẽn kinh tế xác định và có thể nối được từ đầu tư công nghệ đến thay đổi hoạt động, rồi từ thay đổi hoạt động đến năng suất, chi phí, doanh thu, thị trường hoặc giá trị gia tăng.
