Khơi nguồn tăng trưởng mới
Mối liên hệ giữa doanh nghiệp và giá trị kinh tế đô thị có thể nhìn theo một dòng vận động: doanh nghiệp trước hết tạo giá trị trong quá trình sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ; giá trị đó được phân phối qua tiền lương, lợi nhuận, giao dịch với nhà cung cấp và các nghĩa vụ tài chính; sau đó tiếp tục lưu chuyển giữa người lao động, hộ gia đình và các doanh nghiệp khác. Một phần giá trị được giữ lại trong đô thị, trong khi phần khác có thể rời khỏi địa bàn thông qua nhập khẩu đầu vào, lợi nhuận chuyển đi hoặc thu nhập được chi tiêu ở nơi khác. Vì vậy, quy mô doanh thu chỉ cho biết quy mô giao dịch, chưa cho biết đầy đủ đô thị thực sự nhận được bao nhiêu giá trị kinh tế.
Doanh nghiệp và giá trị kinh tế đô thị liên hệ thế nào?

Giá trị kinh tế đô thị bắt đầu từ giá trị gia tăng, không phải doanh thu

Để hiểu vai trò của doanh nghiệp, trước hết cần phân biệt doanh thu với giá trị gia tăng. Đây là điểm dễ gây nhầm lẫn nhất khi đánh giá đóng góp kinh tế của một doanh nghiệp đối với đô thị.

Theo logic của Hệ thống Tài khoản quốc gia, giá trị gia tăng có thể hiểu theo công thức cơ bản:

Giá trị gia tăng = Giá trị đầu ra – Chi phí trung gian

Chi phí trung gian là giá trị hàng hóa và dịch vụ doanh nghiệp mua từ bên ngoài để phục vụ quá trình tạo ra đầu ra. Vì vậy, toàn bộ doanh thu của một doanh nghiệp không thể được coi là giá trị mới do chính doanh nghiệp đó tạo ra.

Giả sử hai doanh nghiệp cùng tạo ra đầu ra trị giá 10 tỷ đồng trong một kỳ. Doanh nghiệp A sử dụng 6 tỷ đồng hàng hóa và dịch vụ trung gian, nên tạo ra 4 tỷ đồng giá trị gia tăng. Doanh nghiệp B sử dụng 8 tỷ đồng chi phí trung gian, nên phần giá trị gia tăng chỉ còn 2 tỷ đồng. Hai doanh nghiệp có cùng quy mô đầu ra nhưng mức giá trị trực tiếp tạo thêm cho nền kinh tế khác nhau đáng kể.

Cách tính này còn giúp tránh hiện tượng tính trùng. Doanh thu của một doanh nghiệp thường chứa giá trị đã được các doanh nghiệp ở những công đoạn trước tạo ra. Nếu cộng toàn bộ doanh thu của mọi doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, cùng một phần giá trị có thể bị tính nhiều lần.

Giá trị gia tăng vì thế là nền tảng phù hợp hơn để nhìn vào đóng góp sản xuất trực tiếp của doanh nghiệp. Từ phần giá trị này hình thành thu nhập của người lao động, thặng dư từ hoạt động kinh doanh và những thành phần thu nhập khác gắn với quá trình sản xuất.

Tuy nhiên, giá trị gia tăng trực tiếp vẫn chưa phản ánh toàn bộ tác động của doanh nghiệp đối với đô thị. Một doanh nghiệp còn tương tác với người lao động, nhà cung cấp, khách hàng, hệ thống hạ tầng và những doanh nghiệp ở gần nó. Các mối quan hệ đó tạo ra những kênh lan tỏa tiếp theo.

Doanh nghiệp và giá trị kinh tế đô thị được tạo ra qua những hoạt động nào?

Hoạt động sản xuất và dịch vụ biến nguồn lực đô thị thành giá trị gia tăng

Doanh nghiệp tạo giá trị kinh tế trước hết bằng khả năng kết hợp các nguồn lực thành sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị cao hơn các đầu vào được sử dụng.

Các nguồn lực đó có thể là lao động, vốn, mặt bằng, máy móc, dữ liệu, kỹ năng quản lý, công nghệ, mạng lưới logistics hoặc khả năng tiếp cận khách hàng. Doanh nghiệp tổ chức chúng thành một quy trình sản xuất hay dịch vụ có khả năng đáp ứng nhu cầu trên thị trường.

Cơ chế này không chỉ xuất hiện trong nhà máy. Một doanh nghiệp phần mềm sử dụng lao động chuyên môn và hạ tầng số để tạo ra sản phẩm số. Một đơn vị logistics tạo giá trị bằng cách giảm thời gian và độ phức tạp của việc di chuyển hàng hóa. Một cửa hàng dịch vụ có thể tạo giá trị bằng sự thuận tiện về địa điểm, chuyên môn hoặc khả năng tiết kiệm thời gian cho khách hàng.

Điều quan trọng nằm ở khả năng sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, chứ không đơn thuần ở việc bán sản phẩm với giá cao. Khi quy trình tốt hơn, công nghệ phù hợp hơn hoặc tổ chức lao động hiệu quả hơn giúp tạo nhiều đầu ra hữu ích hơn từ cùng một lượng nguồn lực, năng suất tăng và cơ sở tạo giá trị của đô thị được mở rộng.

Ngược lại, giá bán tăng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với giá trị thực được tạo thêm. Giá có thể tăng do khan hiếm mặt bằng, hạn chế cạnh tranh hoặc chi phí đầu vào tăng. Vì vậy, muốn đánh giá đóng góp kinh tế của doanh nghiệp cần nhìn vào quá trình biến đổi nguồn lực và hiệu quả sản xuất, thay vì chỉ nhìn vào doanh số hoặc mức giá trên thị trường.

Ở cấp độ đô thị, ý nghĩa của doanh nghiệp nằm ở chỗ nó biến những nguồn lực vốn tồn tại rời rạc — lao động, vốn, đất đai, kiến thức và kết nối thị trường — thành hoạt động sản xuất có tổ chức. Chính quá trình tổ chức đó tạo nên lớp giá trị kinh tế trực tiếp đầu tiên.

Việc làm và thu nhập đưa giá trị doanh nghiệp vào vòng tuần hoàn đô thị

Khi doanh nghiệp tuyển dụng lao động, một phần giá trị được tạo ra trong hoạt động sản xuất được chuyển thành thu nhập của người lao động. Đây là kênh quan trọng kết nối hoạt động của doanh nghiệp với đời sống kinh tế rộng hơn trong đô thị.

Người lao động dùng thu nhập để mua thực phẩm, nhà ở, vận tải, giáo dục, dịch vụ cá nhân và nhiều loại hàng hóa khác. Nếu các khoản chi tiêu này diễn ra tại địa phương, doanh thu của những doanh nghiệp phục vụ cư dân tăng lên. Những doanh nghiệp đó lại trả lương, mua đầu vào và thực hiện các giao dịch tiếp theo.

Như vậy, một hoạt động sản xuất ban đầu có thể tạo ra nhiều vòng giao dịch liên tiếp.

Tuy nhiên, cần tránh cộng tiền lương vào giá trị gia tăng như thể đó là hai nguồn giá trị độc lập. Tiền lương về bản chất là một trong những cách giá trị được tạo ra trong quá trình sản xuất được phân phối. Tác động bổ sung xuất hiện khi phần thu nhập này tiếp tục được chi tiêu và kích thích những hoạt động kinh tế khác.

Mức lan tỏa cũng phụ thuộc vào nơi dòng tiền được sử dụng. Nếu người lao động nhận thu nhập tại một đô thị nhưng sống và chi tiêu phần lớn ở địa phương khác, tác động đối với sức mua tại đô thị nơi doanh nghiệp đặt cơ sở sẽ nhỏ hơn. Tương tự, nếu phần lớn hàng hóa người dân mua được cung cấp từ bên ngoài, một phần dòng tiền sẽ nhanh chóng rời khỏi nền kinh tế địa phương.

Do đó, số lượng việc làm chỉ là một chỉ báo. Khi muốn hiểu sâu hơn vai trò kinh tế của doanh nghiệp, còn phải xem xét mức thu nhập được tạo ra, năng suất của việc làm và mức độ mà thu nhập đó tiếp tục lưu chuyển trong nền kinh tế đô thị.

Kênh việc làm vì thế cho thấy doanh nghiệp không chỉ sản xuất hàng hóa hay dịch vụ. Doanh nghiệp còn phân phối sức mua, kết nối hoạt động sản xuất với tiêu dùng hộ gia đình và tạo cầu cho nhiều hoạt động kinh tế khác.

Liên kết nhà cung cấp và khách hàng tạo giá trị lan tỏa giữa các doanh nghiệp

Một doanh nghiệp hiếm khi hoạt động độc lập. Nó mua nguyên liệu, vận tải, phần mềm, bảo trì, kế toán, thiết kế, quảng cáo, dịch vụ tài chính và nhiều loại đầu vào khác. Ở chiều ngược lại, sản phẩm của doanh nghiệp có thể trở thành đầu vào cho những doanh nghiệp tiếp theo.

Những quan hệ đó hình thành liên kết ngược với nhà cung cấpliên kết xuôi với khách hàng doanh nghiệp.

Khi một doanh nghiệp mở rộng sản xuất và tăng mua hàng từ các nhà cung cấp trong đô thị, nhu cầu đối với những nhà cung cấp này cũng tăng. Nếu nhu cầu đủ ổn định, thị trường có thể hỗ trợ sự xuất hiện của các nhà cung cấp chuyên môn hóa hơn. Doanh nghiệp mua hàng nhờ đó có thể tiếp cận dịch vụ nhanh hơn, giảm một số chi phí giao dịch và phối hợp sản xuất thuận lợi hơn.

Ở chiều xuôi, một doanh nghiệp có thể tạo giá trị cho đô thị bằng cách cung cấp đầu vào giúp khách hàng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Một nhà cung cấp phần mềm quản trị, đơn vị logistics hoặc dịch vụ kỹ thuật có thể không tạo ra sản phẩm tiêu dùng cuối cùng, nhưng sản phẩm của họ góp phần cải thiện hoạt động của nhiều doanh nghiệp khác.

Đây là lý do hai doanh nghiệp có doanh thu tương đương vẫn có thể tạo ra mức độ liên kết địa phương rất khác nhau. Một doanh nghiệp nhập phần lớn hàng hóa hoàn chỉnh từ bên ngoài có thể chủ yếu giữ lại tại địa phương phần giá trị của hoạt động phân phối, lao động và dịch vụ liên quan. Một doanh nghiệp khác mua thiết kế, vận tải, bảo trì và các dịch vụ chuyên môn từ mạng lưới địa phương có thể tạo ra nhiều giao dịch giữa các doanh nghiệp trong cùng nền kinh tế đô thị hơn.

Tuy vậy, mua hàng địa phương không phải mục tiêu tuyệt đối. Nếu đầu vào tại địa phương có chi phí quá cao hoặc không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, buộc doanh nghiệp phải sử dụng chúng có thể làm giảm năng suất và cuối cùng làm giảm khả năng tạo giá trị. Điều cần quan tâm là sự kết hợp giữa năng lực cạnh tranh của nhà cung cấp, hiệu quả của chuỗi cung ứng và tỷ lệ giá trị có thể được giữ lại tại địa phương.

Vì vậy, mạng lưới doanh nghiệp càng có khả năng hình thành các quan hệ cung ứng hiệu quả thì hoạt động của một doanh nghiệp càng dễ trở thành đầu vào cho sự phát triển của nhiều doanh nghiệp khác.

Đầu tư, đổi mới và tập trung doanh nghiệp có thể nâng năng suất đô thị

Doanh nghiệp không chỉ tạo giá trị từ nguồn lực hiện có. Thông qua đầu tư và đổi mới, doanh nghiệp còn có thể làm thay đổi năng lực tạo giá trị trong tương lai của đô thị.

Đầu tư vào máy móc, công nghệ, phần mềm, quy trình quản lý hoặc đào tạo có thể giúp lao động tạo ra nhiều đầu ra hơn hoặc tạo ra sản phẩm có chất lượng và mức độ chuyên môn hóa cao hơn. Khi một cách tổ chức sản xuất hiệu quả được áp dụng thành công, doanh nghiệp khác cũng có động lực học hỏi, cạnh tranh hoặc tìm ra giải pháp tốt hơn.

Trong kinh tế đô thị, quá trình này đặc biệt đáng chú ý khi nhiều doanh nghiệp và lao động có liên quan tập trung trong cùng một khu vực. Đây là nền tảng của lợi ích tích tụ.

Mật độ doanh nghiệp có thể tạo ra một thị trường lao động chuyên môn sâu hơn. Người lao động có nhiều lựa chọn việc làm hơn, còn doanh nghiệp có thể tiếp cận nhóm kỹ năng phù hợp hơn. Khi nhu cầu đủ lớn, các dịch vụ chuyên biệt như tư vấn kỹ thuật, thiết kế, logistics hoặc hỗ trợ công nghệ cũng có điều kiện phát triển.

Khoảng cách địa lý gần còn giúp việc trao đổi thông tin, quan sát đối thủ, gặp gỡ khách hàng và chuyển giao kinh nghiệm diễn ra thuận lợi hơn. Giá trị mà một doanh nghiệp tạo ra khi đó không chỉ nằm bên trong doanh nghiệp; một phần tri thức và năng lực có thể lan sang mạng lưới xung quanh.

Nhưng tập trung doanh nghiệp không tạo lợi ích vô hạn. Khi mật độ hoạt động vượt quá khả năng đáp ứng của hạ tầng và không gian đô thị, tắc nghẽn, giá thuê cao, thời gian di chuyển dài hoặc cạnh tranh quá mức đối với một số nguồn lực có thể làm tăng chi phí. Lợi ích của tích tụ vì vậy phải được đặt cạnh chi phí của chính sự tập trung.

Điểm quan trọng là một đô thị không tạo ra giá trị cao chỉ nhờ có thật nhiều doanh nghiệp. Giá trị tăng bền vững hơn khi sự hiện diện của các doanh nghiệp tạo ra những tương tác giúp năng suất, chuyên môn hóa và khả năng đổi mới của toàn hệ thống được cải thiện.

Thuế, hạ tầng và khả năng giữ lại giá trị quyết định phần lợi ích đô thị nhận được

Hoạt động của doanh nghiệp còn gắn với một kênh khác: nguồn thu công và việc sử dụng hệ thống tài sản, đất đai và hạ tầng đô thị.

Doanh nghiệp có thể phát sinh nhiều nghĩa vụ thuế, phí và các khoản thanh toán liên quan đến hoạt động kinh tế. Những nguồn thu này góp phần hình thành cơ sở tài chính cho khu vực công, dù khoản nào thực sự thuộc ngân sách đô thị còn phụ thuộc vào cơ chế phân cấp và hệ thống thu ngân sách cụ thể.

Cần phân biệt rõ rằng thuế không phải một lớp giá trị mới có thể cộng cơ học lên toàn bộ giá trị gia tăng. Thuế là một kênh phân phối nguồn lực phát sinh từ hoạt động kinh tế. Nếu cộng nhiều chỉ tiêu mà không xét quan hệ giữa chúng, việc đánh giá đóng góp của doanh nghiệp có thể bị tính trùng.

Tương tự, doanh nghiệp sử dụng đường sá, điện, nước, viễn thông, đất đai và nhiều loại hạ tầng khác để hoạt động. Khi hạ tầng giúp các doanh nghiệp đạt năng suất cao hơn, giá trị sử dụng của hệ thống đô thị được chuyển hóa thành hoạt động kinh tế. Nhưng doanh nghiệp đồng thời tạo ra nhu cầu mới đối với chính hạ tầng đó. Nếu nhu cầu gây ra chi phí tắc nghẽn, quá tải hoặc những ngoại tác kinh tế đáng kể, phần chi phí này cần được tính đến khi đánh giá lợi ích ròng.

Một vấn đề khác là giá trị được tạo ở đô thị có được giữ lại tại đô thị hay không. Doanh nghiệp có thể tạo doanh thu lớn nhưng sử dụng nhiều đầu vào nhập từ bên ngoài, chuyển phần lớn lợi nhuận sang nơi khác hoặc sử dụng lao động có thu nhập được chi tiêu chủ yếu ngoài địa bàn. Trong trường hợp đó, quy mô hoạt động lớn không tự động chuyển thành mức lưu giữ giá trị tương ứng cho kinh tế địa phương.

Ngược lại, doanh nghiệp có năng suất tốt, sử dụng mạng lưới cung ứng cạnh tranh tại địa phương, trả thu nhập được lưu chuyển trong đô thị và hình thành quan hệ kinh doanh với các doanh nghiệp khác có thể tạo ra nhiều tầng tác động hơn từ cùng một hoạt động ban đầu.

Vì vậy, khi đánh giá một doanh nghiệp đóng góp bao nhiêu cho giá trị kinh tế đô thị, có thể lần lượt đặt bốn câu hỏi: doanh nghiệp trực tiếp tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng; giá trị đó được phân phối cho lao động và các chủ thể nào; bao nhiêu dòng tiền tiếp tục lưu chuyển qua mạng lưới kinh tế địa phương; và những lợi ích đó đi kèm những chi phí hoặc rò rỉ kinh tế nào.

Cách đánh giá này chính xác hơn việc chỉ đếm doanh nghiệp, việc làm hoặc doanh thu. Nó cho thấy mục tiêu thực chất không phải là có nhiều giao dịch nhất, mà là biến nguồn lực đô thị thành giá trị với năng suất cao và tạo điều kiện để giá trị đó tiếp tục lan tỏa trong nền kinh tế địa phương.

Doanh nghiệp tạo ra giá trị kinh tế đô thị trước hết bằng việc kết hợp lao động, vốn, tri thức, hạ tầng và các đầu vào để tạo ra giá trị gia tăng. Giá trị này sau đó đi vào nền kinh tế rộng hơn thông qua thu nhập của người lao động, giao dịch với nhà cung cấp, đầu tư, đổi mới, quan hệ giữa các doanh nghiệp và nguồn thu công. Tuy nhiên, doanh thu cao hay số lượng doanh nghiệp lớn chưa đủ để kết luận một đô thị nhận được nhiều giá trị kinh tế. Mức đóng góp còn phụ thuộc vào năng suất, tỷ lệ chi phí trung gian, chất lượng liên kết địa phương, khả năng giữ dòng thu nhập trong đô thị và các chi phí phát sinh từ hoạt động kinh tế. Vì thế, vai trò cốt lõi của doanh nghiệp là tổ chức nguồn lực thành hoạt động có năng suất và giúp giá trị được tạo ra tiếp tục lưu chuyển, lan tỏa trong hệ kinh tế đô thị.

29/08/2026 09:47:35
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN