Khơi nguồn tăng trưởng mới
Hiệu suất sử dụng nguồn lực kinh tế đô thị phản ánh khả năng một đô thị chuyển các nguồn lực hữu hạn như đất đai, lao động, vốn, hạ tầng, năng lượng và ngân sách thành sản lượng, thu nhập, dịch vụ và chất lượng sống. Vì vậy, hiệu suất không đơn thuần là sử dụng càng nhiều nguồn lực càng tốt mà là tạo được giá trị lớn hơn với một lượng đầu vào nhất định, đồng thời hạn chế các chi phí phát sinh như ùn tắc, ô nhiễm, thời gian di chuyển hay lãng phí đất.
Yếu tố ảnh hưởng hiệu suất nguồn lực đô thị gồm những gì?

Các yếu tố ảnh hưởng hiệu suất nguồn lực đô thị có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phân bổ nguồn lực quyết định chúng được đưa đến đâu; hạ tầng quyết định mức độ kết nối; thể chế quyết định các chủ thể có thể điều chỉnh nguồn lực nhanh đến mức nào; công nghệ ảnh hưởng năng suất; còn mật độ, quy mô và ngoại tác đô thị quyết định lợi ích tập trung có lớn hơn chi phí tập trung hay không. Do đó, một thành phố có nhiều vốn hoặc đất chưa chắc sử dụng nguồn lực hiệu quả nếu các yếu tố này không vận hành đồng bộ.

Phân bổ đất đai, lao động và vốn quyết định hiệu suất ngay từ đầu

Một trong những yếu tố trực tiếp nhất là nguồn lực có được phân bổ vào đúng hoạt động và đúng vị trí hay không. Hiệu suất giảm khi đất, lao động hoặc vốn bị giữ trong những mục đích tạo giá trị thấp trong khi các hoạt động có năng suất cao hơn lại khó tiếp cận nguồn lực.

Với đất đai, vấn đề không chỉ nằm ở diện tích có sẵn mà còn ở vị trí và cách sử dụng. Đất gần các trung tâm việc làm, tuyến giao thông hoặc khu vực có nhu cầu cao thường có giá trị kinh tế khác với đất ở vị trí kém kết nối. Nếu quy hoạch quá cứng, thủ tục chuyển đổi kéo dài hoặc đất có vị trí thuận lợi bị sử dụng dưới công suất, doanh nghiệp và hộ gia đình phải dịch chuyển ra xa hơn. Hệ quả không chỉ là giảm hiệu quả sử dụng đất mà còn làm tăng nhu cầu đi lại và áp lực lên hạ tầng.

Đối với lao động, hiệu suất phụ thuộc nhiều vào khả năng kết nối người lao động với công việc phù hợp kỹ năng. Một đô thị có lực lượng lao động lớn nhưng tồn tại khoảng cách giữa nơi ở, vị trí việc làm và trình độ chuyên môn vẫn có thể tạo ra năng suất thấp hơn tiềm năng. Chi phí nhà ở và thời gian đi lại quá cao cũng hạn chế khả năng người lao động chuyển đến những khu vực có cơ hội tốt hơn.

Vốn chịu một cơ chế tương tự. Vốn đầu tư chỉ làm tăng hiệu suất khi được đưa vào những công trình, doanh nghiệp hoặc công nghệ có khả năng tạo thêm giá trị. Đầu tư lớn vào tài sản có mức sử dụng thấp hoặc xây mới trong khi tài sản hiện hữu thiếu bảo trì có thể làm tăng lượng vốn của đô thị nhưng không tạo mức tăng tương ứng về sản lượng hay chất lượng dịch vụ.

Vì thế, tỷ lệ sử dụng cao chưa đồng nghĩa với hiệu suất cao. Một tuyến đường luôn hoạt động hết công suất nhưng thường xuyên tắc nghẽn, hay một khu đất được xây dựng cực kỳ dày đặc nhưng tạo chi phí đi lại lớn, có thể đang ở trạng thái quá tải hơn là sử dụng nguồn lực tối ưu.

Yếu tố ảnh hưởng hiệu suất nguồn lực đô thị từ phân bổ đến công nghệ

Hạ tầng và khả năng kết nối làm thay đổi giá trị của các nguồn lực

Hạ tầng giao thông, điện, nước, viễn thông và các mạng lưới dịch vụ đô thị không chỉ là một loại nguồn lực riêng biệt. Chúng còn quyết định các nguồn lực khác có thể kết hợp với nhau hiệu quả đến đâu.

Cơ chế quan trọng nhất của hạ tầng giao thông là giảm chi phí tiếp cận. Khi thời gian và độ bất định của hành trình giảm, người lao động có thể tiếp cận nhiều việc làm hơn, doanh nghiệp tiếp cận được thị trường lao động và khách hàng rộng hơn, còn hàng hóa có thể lưu chuyển với chi phí thấp hơn. Nhờ đó, phạm vi kinh tế thực tế của đô thị có thể lớn hơn phạm vi địa lý của từng khu dân cư hoặc khu kinh doanh.

Khả năng kết nối vì vậy thường quan trọng hơn việc chỉ tăng chiều dài đường hoặc số lượng công trình. Một mạng lưới có nhiều hạ tầng nhưng các tuyến kết nối yếu, trung chuyển khó khăn hoặc dịch vụ thiếu ổn định vẫn tạo ra chi phí giao dịch lớn. Điều tương tự xảy ra với điện, nước và hạ tầng số: độ tin cậy của mạng lưới ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian gián đoạn sản xuất và khả năng khai thác các tài sản khác.

Hạ tầng cũng có thể tạo hiệu ứng bổ trợ. Một khu vực được phép phát triển mật độ cao sẽ khó khai thác lợi ích kinh tế nếu giao thông công cộng, cấp nước hoặc lưới điện không đủ khả năng phục vụ. Ngược lại, đầu tư một tuyến giao thông có năng lực lớn nhưng không cho phép đất xung quanh điều chỉnh theo nhu cầu có thể khiến một phần năng lực của dự án không được khai thác.

Tuy nhiên, xây thêm hạ tầng không mặc nhiên làm tăng hiệu suất. Công trình có quy mô vượt nhu cầu gây ra chi phí vốn và bảo trì lớn; trong khi mở rộng đường trong khu vực có nhu cầu đi lại cao có thể nhanh chóng thu hút thêm phương tiện và tái tạo ùn tắc. Hiệu quả vì vậy cần được đánh giá trên toàn bộ mạng lưới và vòng đời tài sản thay vì dựa vào số lượng dự án.

Thể chế, quy hoạch và quản trị quyết định tốc độ nguồn lực được tái phân bổ

Thị trường có thể nhận biết nơi đất, vốn hoặc lao động tạo ra giá trị cao hơn, nhưng khả năng chuyển nguồn lực đến những nơi đó phụ thuộc đáng kể vào thể chế. Quy định sử dụng đất, thủ tục cấp phép, quyền tài sản, quy trình đầu tư công, mức độ phối hợp giữa các cơ quan và tính minh bạch đều có thể làm giảm hoặc tăng chi phí của quá trình tái phân bổ.

Khi quy định rõ ràng và có khả năng dự đoán, doanh nghiệp có thể ra quyết định đầu tư với mức bất định thấp hơn. Ngược lại, thời gian phê duyệt kéo dài hoặc quy định thay đổi khó dự báo khiến một phần vốn và đất phải nằm chờ thay vì được đưa vào hoạt động sản xuất.

Quản trị đô thị còn ảnh hưởng đến hiệu suất thông qua vấn đề phối hợp. Hoạt động kinh tế thường vượt qua ranh giới hành chính: người dân có thể sống ở một địa phương, làm việc ở địa phương khác và sử dụng hạ tầng do nhiều cấp quản lý. Nếu quy hoạch nhà ở, giao thông và việc làm được thực hiện riêng rẽ, một quyết định tối ưu đối với từng đơn vị hành chính có thể tạo kết quả kém hiệu quả cho toàn vùng đô thị.

Chất lượng quản trị đầu tư công cũng quan trọng không kém số tiền được đầu tư. Lựa chọn dự án, đấu thầu, quản lý chi phí, bảo trì và theo dõi mức sử dụng quyết định một đồng ngân sách tạo ra bao nhiêu năng lực phục vụ thực tế.

Giới hạn nằm ở chỗ cả thiếu quy định lẫn quy định quá mức đều có thể làm giảm hiệu suất. Kiểm soát quá yếu có thể tạo ùn tắc, ô nhiễm và phát triển thiếu hạ tầng; nhưng các hạn chế vượt quá mức cần thiết lại làm giảm khả năng điều chỉnh nguồn cung đất, nhà ở và không gian kinh doanh. Thể chế hiệu quả vì thế phải vừa kiểm soát ngoại tác vừa cho phép nguồn lực phản ứng trước thay đổi của nhu cầu.

Công nghệ và dữ liệu nâng năng suất nhưng phụ thuộc vào năng lực hấp thụ

Công nghệ tác động đến hiệu suất nguồn lực đô thị theo hai hướng. Thứ nhất, doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều sản lượng hơn từ cùng lượng lao động và vốn nhờ tự động hóa, phần mềm, thiết bị hoặc phương thức tổ chức mới. Thứ hai, cơ quan quản lý có thể vận hành hạ tầng và dịch vụ chính xác hơn nhờ dữ liệu.

Trong giao thông, dữ liệu thời gian thực có thể hỗ trợ điều phối phương tiện và quản lý mạng lưới. Trong năng lượng và cấp nước, cảm biến giúp phát hiện bất thường và giảm thất thoát. Các quy trình hành chính được số hóa có thể giảm thời gian giao dịch của doanh nghiệp và người dân. Điểm chung là công nghệ làm giảm lượng lao động, thời gian hoặc vật chất cần thiết để thực hiện cùng một nhiệm vụ.

Tuy nhiên, mua thiết bị hoặc triển khai một nền tảng số chưa đủ để tạo ra năng suất. Giá trị của công nghệ phụ thuộc vào kỹ năng của người sử dụng, khả năng tích hợp dữ liệu, chất lượng quy trình quản trị và mức độ tương thích giữa các hệ thống. Một hệ thống hiện đại nhưng dữ liệu đầu vào kém hoặc không được sử dụng trong quá trình ra quyết định có thể tạo thêm chi phí mà không cải thiện hiệu suất tương ứng.

Công nghệ còn có chi phí chuyển đổi. Đầu tư ban đầu, đào tạo nhân lực, an toàn dữ liệu và nguy cơ phụ thuộc vào một hệ thống hoặc nhà cung cấp đều phải được tính vào lợi ích dài hạn. Do đó, tác động của công nghệ nên được đánh giá bằng mức cải thiện năng suất hoặc giảm chi phí thực tế chứ không phải bằng mức độ hiện đại của thiết bị.

Mật độ và quy mô đô thị tạo lợi ích tập trung nhưng cũng sinh chi phí quá tải

Đô thị có một lợi thế quan trọng so với các khu vực phân tán: nhiều doanh nghiệp, người lao động và dịch vụ nằm gần nhau. Sự tập trung này có thể tạo ra các nền kinh tế tích tụ thông qua ba cơ chế chính: chia sẻ nguồn lực và hạ tầng, kết nối doanh nghiệp với lao động phù hợp hơn và thúc đẩy trao đổi tri thức.

Một thị trường lao động lớn giúp doanh nghiệp dễ tìm người có kỹ năng chuyên môn và đồng thời cung cấp nhiều lựa chọn việc làm hơn cho người lao động. Quy mô thị trường cũng cho phép các dịch vụ chuyên biệt tồn tại vì có đủ khách hàng. Khi doanh nghiệp và con người ở gần nhau, thông tin và kiến thức còn có khả năng lan truyền nhanh hơn, hỗ trợ đổi mới và năng suất.

Nhưng quan hệ giữa mật độ và hiệu suất không tăng vô hạn. Khi mật độ vượt quá khả năng của hạ tầng và quản trị, lợi ích từ khoảng cách gần có thể bị bào mòn bởi ùn tắc, giá đất và nhà ở cao, ô nhiễm hoặc quá tải dịch vụ công. Người lao động có thể sống gần trung tâm theo khoảng cách địa lý nhưng vẫn mất nhiều thời gian di chuyển nếu mạng lưới giao thông không đáp ứng nhu cầu.

Do đó không tồn tại một mức mật độ duy nhất tối ưu cho mọi thành phố. Cùng một mật độ dân cư, một đô thị có giao thông công cộng và hạ tầng tốt có thể vận hành hiệu quả hơn đáng kể so với đô thị phụ thuộc vào mạng lưới yếu. Lợi ích của tập trung phụ thuộc vào khả năng tăng năng lực hạ tầng và quản trị tương ứng với mức độ tập trung kinh tế.

Năng lượng, môi trường và ngoại tác quyết định hiệu suất thực chứ không chỉ hiệu suất kế toán

Một đô thị có thể tạo ra sản lượng lớn trên mỗi đơn vị đất hoặc lao động nhưng vẫn sử dụng nguồn lực kém hiệu quả nếu quá trình đó tiêu tốn nhiều năng lượng, tạo ô nhiễm hoặc chuyển chi phí sang các nhóm khác. Vì vậy, đánh giá hiệu suất chỉ bằng sản lượng kinh tế có thể bỏ qua một phần đáng kể chi phí thực.

Ùn tắc là ví dụ điển hình. Một khu vực tập trung nhiều việc làm có thể tạo giá trị kinh tế lớn, nhưng thời gian của hàng triệu chuyến đi bị mất do tắc nghẽn cũng là một nguồn lực. Ô nhiễm không khí, tiếng ồn, phát sinh chất thải hay tổn thất năng lượng tương tự đều có thể làm giảm lợi ích ròng mà đô thị thu được từ hoạt động kinh tế.

Rủi ro khí hậu và khả năng chống chịu cũng ảnh hưởng đến cách hiểu hiệu suất. Một hệ thống được thiết kế chỉ để tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện bình thường có thể hoạt động rất hiệu quả trên giấy, nhưng dễ gián đoạn khi gặp ngập lụt, nắng nóng hoặc sự cố nguồn cung. Trong trường hợp này, một mức dự phòng nhất định có thể làm tăng chi phí ngắn hạn nhưng giảm thiệt hại và thời gian gián đoạn trong toàn bộ vòng đời.

Điều đó cho thấy hiệu suất nguồn lực đô thị cần được nhìn theo nhiều chiều. Bên cạnh sản lượng trên lao động, đất hoặc vốn, cần xem xét thời gian di chuyển, mức sử dụng hạ tầng, chi phí vận hành, cường độ năng lượng, thất thoát tài nguyên và các ngoại tác quan trọng. Nếu chỉ cải thiện một chỉ số bằng cách đẩy chi phí sang chỉ số khác, đô thị chưa chắc đạt hiệu suất tổng thể cao hơn.

Hiệu suất sử dụng nguồn lực kinh tế đô thị được hình thành bởi một hệ thống tương tác chứ không phải một biến số riêng lẻ. Phân bổ đất, lao động và vốn tạo nền tảng; hạ tầng kết nối các nguồn lực; thể chế cho phép chúng được tái phân bổ; công nghệ nâng năng suất; còn mật độ tạo lợi ích tập trung khi năng lực hạ tầng và quản trị theo kịp.

Vì các yếu tố này phụ thuộc lẫn nhau, nút thắt lớn nhất có thể khác nhau giữa từng đô thị. Bổ sung vốn khó tạo hiệu quả khi phân bổ đất bị méo mó; tăng mật độ có thể phản tác dụng khi giao thông quá tải; và công nghệ khó nâng năng suất nếu thiếu kỹ năng hoặc dữ liệu phù hợp. Do đó, đánh giá yếu tố ảnh hưởng hiệu suất nguồn lực đô thị cần tập trung vào cả năng suất của từng nguồn lực lẫn cách chúng phối hợp với nhau và những chi phí ngoại tác phát sinh trong quá trình sử dụng.

05/10/2026 01:45:24
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN