Khơi nguồn tăng trưởng mới
Khả năng tiếp cận nguồn lực kinh tế đô thị không chỉ quyết định một doanh nghiệp có “đủ nguồn lực” hay không, mà quan trọng hơn là nguồn lực đó có đến đúng nơi, đúng lúc, với chi phí đủ thấp và độ tin cậy đủ cao để được đưa vào sản xuất hay không. Đất đai, lao động, vốn, điện, nước, giao thông, hạ tầng số và thị trường càng dễ tiếp cận, chi phí giao dịch và thời gian chờ càng thấp, từ đó khả năng sản xuất, tuyển dụng, mở rộng và kết nối thị trường càng cao.
Tiếp cận nguồn lực kinh tế đô thị ảnh hưởng hoạt động thế nào?

Ngược lại, khi doanh nghiệp hoặc người lao động bị tách khỏi các nguồn lực này bởi khoảng cách, chi phí, tắc nghẽn, thiếu hạ tầng hoặc rào cản thể chế, quy mô kinh tế của đô thị có thể lớn nhưng phần năng lực sản xuất thực tế bị hạn chế.

Tiếp cận nguồn lực là điều kiện để nguồn lực trở thành năng lực sản xuất

Trong kinh tế đô thị, cần phân biệt sự tồn tại của nguồn lực với khả năng tiếp cận nguồn lực. Một thành phố có nhiều lao động nhưng doanh nghiệp không thể tuyển đúng kỹ năng vì giao thông kém vẫn gặp thiếu lao động hiệu quả. Tương tự, có quỹ đất nhưng đất nằm xa hạ tầng hoặc có chi phí kết nối quá cao thì giá trị sản xuất mà khu đất có thể tạo ra bị hạn chế.

Có thể hình dung chuỗi tác động như sau:

Nguồn lực → khả năng tiếp cận → chi phí và thời gian sử dụng → quyết định sản xuất → năng suất → sản lượng và việc làm

Khả năng tiếp cận vì thế là một biến trung gian quan trọng. OECD nhấn mạnh rằng khả năng tiếp cận trong đô thị không chỉ là tốc độ di chuyển, mà là số lượng cơ hội như việc làm, dịch vụ và thị trường mà một người có thể tiếp cận trong một khoảng thời gian nhất định.

Điều này giải thích vì sao hai doanh nghiệp sử dụng công nghệ và lao động tương tự nhau vẫn có thể đạt kết quả khác nhau nếu một doanh nghiệp nằm gần khách hàng, nhà cung cấp, nhân lực phù hợp và hạ tầng đáng tin cậy hơn.

Tiếp cận nguồn lực kinh tế đô thị quyết định khả năng sản xuất ra sao?

Hạ tầng và giao thông quyết định doanh nghiệp tiếp cận đầu vào, lao động và thị trường ra sao

Hạ tầng là một trong những kênh rõ nhất biến khả năng tiếp cận thành kết quả kinh tế. Điện, nước, viễn thông, giao thông và các dịch vụ đô thị không trực tiếp tạo ra sản phẩm cuối cùng, nhưng chúng tạo điều kiện để hoạt động sản xuất diễn ra liên tục.

Với doanh nghiệp, giao thông tốt làm giảm thời gian đưa nguyên liệu đến cơ sở sản xuất và đưa hàng hóa đến khách hàng. Với người lao động, mạng lưới giao thông tốt mở rộng bán kính tiếp cận việc làm mà không nhất thiết phải chuyển nhà. Với đô thị, kết nối tốt giúp các doanh nghiệp khai thác được quy mô thị trường và nguồn nhân lực lớn hơn.

OECD cho thấy khả năng tiếp cận giao thông tốt có liên hệ với năng suất và tiền lương, đồng thời các lợi ích tập trung đô thị một phần đến từ nhiều cơ hội tương tác, học hỏi và ghép nối kỹ năng với việc làm.

Một chỉ báo định lượng cho thấy quy mô của tác động này: nghiên cứu được OECD tổng hợp về các thành phố cốt lõi của Anh ước tính rằng tăng 10 điểm phần trăm về hiệu quả tiếp cận đường bộ có liên hệ với mức tăng khoảng 1,2% năng suất bình quân. Đây là bằng chứng về mối quan hệ kinh tế cụ thể, chứ không chỉ là nhận định rằng “giao thông tốt giúp phát triển”.

Tuy nhiên, giao thông không tự động tạo ra hiệu quả nếu nơi ở, việc làm và dịch vụ được bố trí quá xa nhau. Vì vậy, khả năng tiếp cận phụ thuộc cả vào hiệu suất mạng lưới giao thông lẫn khoảng cách không gian giữa người và cơ hội.

Đất đai, vốn và dịch vụ thiết yếu quyết định khả năng mở rộng sản xuất

Đối với doanh nghiệp đô thị, đất đai và mặt bằng sản xuất là một nguồn lực có tính không gian rất mạnh. Một vị trí có thể có giá trị kinh tế cao không chỉ vì diện tích, mà vì nó gần lao động, khách hàng, nhà cung cấp, đầu mối vận tải và các dịch vụ hỗ trợ.

Khi chi phí tiếp cận đất tăng quá cao, doanh nghiệp có thể phải chuyển sang vị trí xa hơn. Khoảng cách tăng lại làm chi phí vận chuyển và tuyển dụng tăng, khiến lợi thế của đô thị bị suy giảm. Đây là một vòng quan hệ giữa giá đất – vị trí – khả năng tiếp cận – chi phí sản xuất.

Vốn cũng chịu tác động tương tự. Khả năng tiếp cận tín dụng quyết định doanh nghiệp có thể đầu tư máy móc, mở rộng mặt bằng, duy trì vốn lưu động hay áp dụng công nghệ mới hay không. Vì vậy, một đô thị có hệ thống tài chính phát triển nhưng doanh nghiệp nhỏ vẫn khó tiếp cận vốn thì nguồn vốn trên toàn hệ thống chưa chuyển hóa đầy đủ thành năng lực sản xuất.

Đối với dịch vụ thiết yếu, độ tin cậy cũng quan trọng không kém khả năng cung cấp. World Bank ghi nhận rằng hơn 30% doanh nghiệp trên toàn cầu coi nguồn điện là một trở ngại đáng kể đối với hoạt động; gián đoạn điện có thể ảnh hưởng đến năng suất, doanh thu và tăng trưởng của doanh nghiệp.

Do đó, “có điện”, “có nước” hay “có internet” chưa phải thước đo đầy đủ. Cần xét thêm độ ổn định, chất lượng, giá cả và khả năng sử dụng thực tế.

Khả năng tiếp cận lao động tạo ra lợi thế năng suất cho đô thị

Một trong những lợi thế kinh tế quan trọng nhất của đô thị là khả năng tập trung người lao động và doanh nghiệp. Nhưng lợi thế này chỉ phát huy khi hai phía có thể tiếp cận nhau.

Nếu doanh nghiệp cần lao động có kỹ năng nhưng phần lớn lực lượng lao động phù hợp nằm ở khu vực có thời gian đi lại quá dài, thị trường lao động thực tế của doanh nghiệp sẽ nhỏ hơn thị trường lao động của toàn đô thị.

Ngược lại, khi giao thông, nhà ở và dịch vụ được tổ chức tốt, một doanh nghiệp có thể tiếp cận nhiều lao động hơn trong cùng một khoảng thời gian. Người lao động cũng có nhiều lựa chọn việc làm hơn. Khi đó, quá trình ghép nối giữa kỹ năng và công việc hiệu quả hơn.

OECD cho thấy sự chênh lệch tiếp cận cơ hội việc làm trong cùng một đô thị có thể rất lớn. Trong một số đô thị, số việc làm có thể tiếp cận bằng giao thông công cộng trong 30 phút khác nhau mạnh giữa các khu vực, cho thấy vị trí cư trú có thể làm thay đổi đáng kể quy mô thị trường lao động thực tế của một người.

Vì vậy, tiếp cận nguồn lực lao động không đơn thuần là “có nhiều người trong thành phố”, mà là doanh nghiệp có thể tiếp cận đúng người với thời gian và chi phí hợp lý hay không.

Tiếp cận thị trường và các doanh nghiệp khác làm tăng hiệu quả của tập trung đô thị

Nguồn lực kinh tế đô thị không chỉ nằm trong từng doanh nghiệp. Một phần quan trọng nằm ở mạng lưới quan hệ giữa các doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp nằm gần nhà cung cấp, khách hàng, đối tác logistics, tổ chức tài chính, cơ sở nghiên cứu và các doanh nghiệp cùng ngành, chi phí tìm kiếm và phối hợp có thể giảm. Doanh nghiệp cũng dễ tiếp cận thông tin, học hỏi công nghệ và tìm kiếm nhân lực chuyên môn hơn.

Đây là một cơ chế của lợi thế tập trung đô thị: mật độ không tạo giá trị chỉ vì có nhiều người và doanh nghiệp đứng cạnh nhau, mà vì sự gần nhau làm tăng số lượng và chất lượng tương tác kinh tế có thể diễn ra.

World Bank mô tả các thành phố như những trung tâm tập trung việc làm, đổi mới và cơ hội kinh tế, nhưng đồng thời nhấn mạnh rằng lợi ích đô thị hóa không tự động xuất hiện nếu thiếu quy hoạch và đầu tư phù hợp.

Bởi vậy, một đô thị có quy mô dân số lớn chưa chắc đã có năng lực sản xuất tương ứng. Mật độ phải đi cùng khả năng tiếp cận thì tập trung kinh tế mới chuyển thành năng suất.

Khả năng tiếp cận không đồng đều có thể làm giảm hiệu quả chung của đô thị

Một sai lầm phổ biến là đánh giá khả năng tiếp cận bằng mức trung bình của toàn thành phố. Trên thực tế, một đô thị có thể có hạ tầng tốt ở trung tâm nhưng khả năng tiếp cận rất thấp tại vùng ven.

OECD ghi nhận trong các vùng đô thị chức năng của OECD, khoảng 84% dân số ở khu vực trung tâm đô thị có thể tiếp cận giao thông công cộng trong vòng 10 phút đi bộ, trong khi tỷ lệ này ở khu vực ngoại vi giảm xuống khoảng 56%.

Khoảng cách này tạo ra một cơ chế phân tầng kinh tế. Nhóm ở gần việc làm, dịch vụ và hạ tầng có nhiều cơ hội hơn; nhóm ở xa phải chịu thêm thời gian đi lại và chi phí tiếp cận. Khi chi phí này đủ lớn, một bộ phận lao động có thể bị loại khỏi những cơ hội việc làm tốt hơn dù về mặt địa lý vẫn sống trong cùng một đô thị.

Vì vậy, vấn đề không chỉ là đô thị có bao nhiêu nguồn lực, mà còn là nguồn lực đó được phân bố và tiếp cận giữa các nhóm dân cư, doanh nghiệp và khu vực như thế nào.

Khi nào tiếp cận nguồn lực thực sự làm tăng sản xuất?

Không phải mọi khoản đầu tư cải thiện tiếp cận đều tạo ra cùng một mức tăng trưởng. Hiệu quả phụ thuộc ít nhất vào bốn điều kiện.

Thứ nhất, nguồn lực phải sẵn có. Một tuyến giao thông nhanh không tạo nhiều giá trị nếu không kết nối tới nơi có việc làm, thị trường hoặc cơ sở sản xuất.

Thứ hai, chi phí tiếp cận phải phù hợp. Hạ tầng tồn tại nhưng phí sử dụng quá cao vẫn có thể khiến doanh nghiệp hoặc người lao động không sử dụng được.

Thứ ba, chất lượng và độ tin cậy phải đủ cao. Điện, nước, internet hoặc giao thông thường xuyên gián đoạn làm giảm giá trị kinh tế của khả năng tiếp cận.

Thứ tư, các nguồn lực phải bổ trợ lẫn nhau. Giao thông tốt nhưng thiếu nhà ở phù hợp có thể không giúp người lao động tiếp cận việc làm. Có đất nhưng thiếu điện và đường kết nối cũng không tạo ra đầy đủ năng lực sản xuất.

World Bank tổng hợp bằng chứng rằng tác động của hạ tầng phụ thuộc vào địa điểm, nhóm xã hội, kỹ năng và cách thiết kế, triển khai, quản lý đầu tư; ba điều kiện quan trọng của khả năng tiếp cận hạ tầng là tính sẵn có, chất lượng và khả năng chi trả.

Do đó, mối quan hệ đúng không phải:

Đầu tư hạ tầng → sản lượng tăng

mà gần hơn với:

Tiếp cận nguồn lực tốt hơn → giảm chi phí/thời gian và tăng cơ hội kết nối → sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn → tăng năng suất và năng lực sản xuất, với kết quả cuối cùng phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, vị trí và mức độ bổ trợ giữa các nguồn lực.

Khả năng tiếp cận nguồn lực vì thế là một trong những cơ chế quyết định đô thị có chuyển được lợi thế về quy mô, mật độ và tập trung kinh tế thành sản xuất thực tế hay không.

05/10/2026 01:45:53
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN