Doanh nghiệp trong kinh tế đô thị giữ vai trò gì?
- Doanh nghiệp trực tiếp tạo ra hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế đô thị
- Doanh nghiệp biến hoạt động sản xuất thành việc làm và thu nhập
- Doanh nghiệp tạo giá trị gia tăng thay vì chỉ luân chuyển tiền trong thành phố
- Mạng lưới doanh nghiệp hình thành chuỗi cung ứng và thị trường đô thị
- Sự tập trung doanh nghiệp có thể nâng năng suất và thúc đẩy đổi mới
- Doanh nghiệp còn mở rộng cơ sở kinh tế và nguồn lực của đô thị
Vai trò này không chỉ nằm ở số lượng doanh nghiệp hiện diện trong thành phố. Điều quan trọng hơn là khả năng của các doanh nghiệp tạo giá trị, trao đổi với nhau và tận dụng những lợi thế do mật độ kinh tế đô thị mang lại.
Doanh nghiệp trực tiếp tạo ra hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế đô thị
Vai trò cơ bản nhất của doanh nghiệp là tổ chức sản xuất. Doanh nghiệp kết hợp lao động, vốn, nguyên liệu, công nghệ và năng lực quản lý để cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho thị trường. Hoạt động này tạo nên một phần quan trọng của sản lượng và giá trị gia tăng được hình thành trong đô thị.
Cơ cấu doanh nghiệp cũng tác động trực tiếp đến cơ cấu kinh tế của thành phố. Một đô thị tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất sẽ hình thành các chuỗi cung ứng, logistics và dịch vụ công nghiệp tương ứng. Khi doanh nghiệp thương mại, tài chính, công nghệ, dịch vụ chuyên môn hoặc kinh tế sáng tạo phát triển mạnh, cấu trúc hoạt động kinh tế sẽ chuyển nhiều hơn sang các ngành dịch vụ và tri thức.
Vì vậy, doanh nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu đã có. Quyết định đầu tư, mở rộng hay thu hẹp hoạt động của doanh nghiệp còn làm thay đổi cách các nguồn lực được phân bổ giữa các ngành và các khu vực trong đô thị.

Doanh nghiệp biến hoạt động sản xuất thành việc làm và thu nhập
Khi doanh nghiệp mở cơ sở, tăng sản lượng hoặc bổ sung dịch vụ, họ phát sinh nhu cầu về lao động. Vì thế, khu vực doanh nghiệp là cầu nối trực tiếp giữa năng lực sản xuất của thành phố và thị trường lao động.
Quy mô của vai trò này rất lớn. World Bank cho biết khoảng chín trong mười việc làm trên thế giới đến từ khu vực tư nhân; ILO cũng xác định doanh nghiệp tư nhân tạo ra phần lớn việc làm tại hầu hết các quốc gia.
Tác động không dừng ở số người được tuyển dụng. Tiền lương và các khoản thu nhập từ việc làm tiếp tục quay trở lại nền kinh tế khi người lao động chi cho nhà ở, ăn uống, giao thông, giáo dục, giải trí và các dịch vụ khác. Một việc làm tại doanh nghiệp vì thế có thể tạo thêm cầu cho những doanh nghiệp khác.
Tuy nhiên, số lượng việc làm chưa phản ánh toàn bộ đóng góp. Việc làm có năng suất cao, ổn định và tạo thu nhập tốt mang lại giá trị kinh tế khác với việc làm năng suất thấp hoặc thiếu ổn định. Khi đánh giá vai trò của doanh nghiệp trong một đô thị, chất lượng việc làm cần được xem cùng với số lượng việc làm.
Doanh nghiệp tạo giá trị gia tăng thay vì chỉ luân chuyển tiền trong thành phố
Doanh thu của doanh nghiệp không đồng nghĩa với toàn bộ giá trị mà doanh nghiệp tạo ra cho nền kinh tế đô thị. Phần có ý nghĩa hơn về mặt kinh tế là giá trị gia tăng: giá trị của đầu ra sau khi loại trừ giá trị của những đầu vào trung gian đã mua từ các đơn vị khác.
Ví dụ, một doanh nghiệp chế biến mua nguyên liệu rồi biến chúng thành sản phẩm có giá trị cao hơn. Một công ty phần mềm kết hợp lao động chuyên môn và công nghệ để tạo một dịch vụ số. Một doanh nghiệp logistics làm tăng giá trị sử dụng của hàng hóa bằng khả năng lưu kho, vận chuyển và phân phối. Trong từng trường hợp, doanh nghiệp tổ chức nguồn lực để tạo ra giá trị mới.
Đây cũng là lý do một đô thị có rất nhiều cơ sở kinh doanh chưa chắc đã có năng suất kinh tế cao. Hai thành phố có số doanh nghiệp tương đương vẫn có thể tạo lượng giá trị gia tăng rất khác nhau nếu khác biệt về năng suất, công nghệ, kỹ năng lao động, cơ cấu ngành và khả năng kết nối giữa các doanh nghiệp.
Do đó, mật độ doanh nghiệp chỉ là một chỉ báo về mức độ tập trung hoạt động kinh tế; nó không thể thay thế các chỉ tiêu về năng suất và giá trị gia tăng.
Mạng lưới doanh nghiệp hình thành chuỗi cung ứng và thị trường đô thị
Một doanh nghiệp hiếm khi hoạt động độc lập. Doanh nghiệp mua đầu vào từ nhà cung cấp, thuê dịch vụ tài chính và logistics, tuyển lao động, sử dụng hạ tầng, bán cho người tiêu dùng hoặc cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp khác.
Các giao dịch đó tạo thành mạng lưới kinh tế của đô thị.
Khi nhiều doanh nghiệp có quan hệ bổ trợ tập trung trong cùng một khu vực, chi phí tìm kiếm khách hàng, nhà cung cấp và lao động phù hợp có thể giảm. Thị trường đủ lớn cũng cho phép doanh nghiệp chuyên môn hóa sâu hơn thay vì phải tự thực hiện nhiều công đoạn. Một doanh nghiệp có thể tập trung vào hoạt động mình làm hiệu quả nhất rồi mua các dịch vụ chuyên môn từ doanh nghiệp khác.
OECD xác định đây là một phần của lợi ích kinh tế do tập trung đô thị. Thị trường lớn hơn giúp doanh nghiệp chuyên môn hóa, cải thiện khả năng ghép nối giữa lao động và việc làm, đồng thời làm tăng cơ hội trao đổi kiến thức giữa người lao động và các doanh nghiệp.
Như vậy, giá trị của doanh nghiệp trong kinh tế đô thị không chỉ là giá trị do từng công ty riêng lẻ tạo ra. Một phần quan trọng còn xuất hiện từ quan hệ giữa các doanh nghiệp.
Sự tập trung doanh nghiệp có thể nâng năng suất và thúc đẩy đổi mới
Đô thị tạo điều kiện để doanh nghiệp nằm gần khách hàng, đối tác, đối thủ cạnh tranh, nguồn lao động có kỹ năng và các tổ chức cung cấp tri thức. Khoảng cách kinh tế ngắn hơn làm cho thông tin, kinh nghiệm và ý tưởng có nhiều cơ hội lưu chuyển.
Cơ chế này giải thích vì sao tập trung doanh nghiệp có thể tạo hiệu ứng vượt quá tổng đóng góp riêng lẻ của từng doanh nghiệp. Công ty dễ quan sát công nghệ mới, tuyển người đã có kinh nghiệm trong ngành, tìm nhà cung cấp chuyên môn hoặc hình thành quan hệ hợp tác. Người lao động cũng tiếp cận một thị trường việc làm rộng hơn, trong khi doanh nghiệp có một tập ứng viên lớn hơn để lựa chọn.
Bằng chứng OECD cho thấy lợi ích tập trung này có thể đo được. Trong nghiên cứu về các thành phố thuộc năm quốc gia OECD, một thành phố có dân số gấp đôi thành phố tương đương được liên hệ với mức năng suất cao hơn khoảng 3,8% trong kết quả hồi quy gộp.
Nhưng mật độ không tự động tạo năng suất. Ùn tắc, giá đất cao, thiếu hạ tầng, kỹ năng lao động không phù hợp hoặc quản trị đô thị phân mảnh có thể làm giảm lợi ích của sự tập trung. OECD cũng ghi nhận các cấu trúc quản trị đô thị phân mảnh có xu hướng gắn với mức năng suất thấp hơn.
Vì vậy, nhiều doanh nghiệp tập trung tại một đô thị chỉ tạo lợi thế khi mạng lưới kinh tế thực sự vận hành được và chi phí của mật độ không lấn át lợi ích mà mật độ tạo ra.
Doanh nghiệp còn mở rộng cơ sở kinh tế và nguồn lực của đô thị
Khi doanh nghiệp sản xuất, tuyển dụng và tạo thu nhập, hoạt động đó tạo thêm giao dịch kinh tế và mở rộng cơ sở tạo nguồn thu cho khu vực công thông qua các sắc thuế, phí và nghĩa vụ tài chính được áp dụng theo từng hệ thống pháp luật. Nguồn lực công này có thể quay trở lại phục vụ giao thông, hạ tầng kỹ thuật và các dịch vụ đô thị.
Chiều tác động cũng diễn ra ngược lại. Doanh nghiệp phụ thuộc vào chất lượng giao thông, điện, nước, viễn thông, quy hoạch, dịch vụ công và môi trường thể chế của thành phố. Chính quyền đô thị vì vậy không thay thế vai trò sản xuất của doanh nghiệp nhưng có thể tạo hoặc hạn chế điều kiện để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
Điều này cho thấy doanh nghiệp nằm trong một quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với đô thị: thành phố cung cấp thị trường, lao động, hạ tầng và khả năng kết nối; doanh nghiệp sử dụng các điều kiện đó để tạo sản lượng, việc làm, thu nhập và giá trị gia tăng.
Doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc kinh tế đô thị vì đây là chủ thể trực tiếp tổ chức sản xuất, sử dụng lao động, tạo giá trị gia tăng và kết nối các giao dịch trên thị trường. Khi nhiều doanh nghiệp tương tác trong một không gian kinh tế có mật độ cao, thành phố còn có thể hình thành lợi ích từ chuyên môn hóa, ghép nối lao động, chuỗi cung ứng và lan tỏa tri thức.
Vì vậy, sức mạnh kinh tế của một đô thị không nên được đánh giá chỉ bằng số doanh nghiệp. Cần nhìn đồng thời vào giá trị mà doanh nghiệp tạo ra, việc làm và năng suất của họ, mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp và khả năng của môi trường đô thị hỗ trợ những hoạt động đó.
