Khơi nguồn tăng trưởng mới

Doanh nghiệp đô thị theo quy mô được phân loại thế nào?

Doanh nghiệp hoạt động tại đô thị có thể được nhìn nhận theo bốn nhóm quy mô cơ bản: siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn. Tuy nhiên, khi xác định theo pháp luật Việt Nam, cần căn cứ đồng thời vào ngành nghề kinh doanh chính, lao động tham gia BHXH bình quân năm và doanh thu hoặc nguồn vốn.
Xét theo cách mô tả quy mô doanh nghiệp, có thể nhận diện bốn nhóm cơ bản gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn. Cơ quan thống kê Việt Nam cũng từng sử dụng bốn nhóm này khi phân tích cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô. Tuy nhiên, cần phân biệt cách phân nhóm thống kê với tiêu chí pháp lý: Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và Nghị định 80/2021/NĐ-CP tập trung xác định ba nhóm là siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp đô thị theo quy mô được phân loại thế nào?

Một điểm quan trọng là “doanh nghiệp đô thị” không có bộ ngưỡng quy mô riêng chỉ vì doanh nghiệp đặt trụ sở hoặc hoạt động trong đô thị. Trong hệ thống tiêu chí hiện hành, quy mô được xác định dựa vào ngành nghề kinh doanh chính, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội và doanh thu hoặc nguồn vốn; vị trí đô thị hay nông thôn không phải một tiêu chí phân loại quy mô. Nghị định 80/2021/NĐ-CP hiện vẫn được Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật ghi nhận là còn hiệu lực.

Bốn nhóm quy mô cơ bản của doanh nghiệp đô thị

Nếu mục tiêu là mô tả cấu trúc doanh nghiệp trong một đô thị, bốn nhóm dễ hiểu nhất là:

·         Doanh nghiệp siêu nhỏ có quy mô lao động và nguồn lực kinh doanh ở mức thấp nhất

·         Doanh nghiệp nhỏ đã vượt quy mô siêu nhỏ nhưng vẫn nằm trong giới hạn của nhóm doanh nghiệp nhỏ

·         Doanh nghiệp vừa có mức lao động, doanh thu hoặc nguồn vốn lớn hơn nhóm nhỏ nhưng chưa vượt giới hạn của doanh nghiệp vừa

·         Doanh nghiệp lớn là nhóm thường được tách riêng trong phân tích kinh tế và thống kê khi nghiên cứu những doanh nghiệp có quy mô cao hơn khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa

Cách chia bốn nhóm giúp mô tả đầy đủ phổ quy mô của cộng đồng doanh nghiệp. Tổng cục Thống kê trước đây đã công bố số liệu riêng cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn, cho thấy “doanh nghiệp lớn” có ý nghĩa như một nhóm phân tích thống kê độc lập.

Dù vậy, nếu mục đích là xác định tư cách doanh nghiệp nhỏ và vừa để áp dụng chính sách, không nên lấy cách phân nhóm thống kê thay cho tiêu chí pháp lý. Pháp luật hiện hành quy định cụ thể ba cấp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.

Doanh nghiệp đô thị theo quy mô gồm những nhóm cơ bản nào?

Ba nhóm tiêu chí quyết định quy mô doanh nghiệp

Quy mô doanh nghiệp không được xác định đơn giản bằng cách đếm số nhân viên. Theo Nghị định 80/2021/NĐ-CP, việc xác định doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ hay vừa dựa trên ba thành phần chính:

1.    Ngành, nghề kinh doanh chính mà doanh nghiệp đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh

2.    Số lao động sử dụng có tham gia BHXH bình quân năm

3.    Tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp

Điều này tạo thành một cơ chế phân loại kết hợp. Một doanh nghiệp phải đáp ứng giới hạn về lao động và đồng thời đáp ứng giới hạn về doanh thu hoặc nguồn vốn tương ứng với nhóm quy mô. Vì vậy, chỉ biết doanh nghiệp có 20, 50 hay 100 lao động chưa đủ để kết luận chính xác doanh nghiệp thuộc nhóm nào.

Ngành nghề cũng ảnh hưởng trực tiếp đến ngưỡng phân loại. Pháp luật chia tiêu chí thành hai cụm chính có mức giới hạn khác nhau: một bên là nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng, bên còn lại là thương mại và dịch vụ.

Ngưỡng pháp lý của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa

Theo Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP, các ngưỡng hiện hành có thể hệ thống như sau.

Quy mô

Nông, lâm, thủy sản; công nghiệp và xây dựng

Thương mại và dịch vụ

Siêu nhỏ

Không quá 10 lao động tham gia BHXH bình quân năm và doanh thu không quá 3 tỷ đồng hoặc nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng

Không quá 10 lao động và doanh thu không quá 10 tỷ đồng hoặc nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng

Nhỏ

Không quá 100 lao động và doanh thu không quá 50 tỷ đồng hoặc nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, đồng thời không thuộc nhóm siêu nhỏ

Không quá 50 lao động và doanh thu không quá 100 tỷ đồng hoặc nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, đồng thời không thuộc nhóm siêu nhỏ

Vừa

Không quá 200 lao động và doanh thu không quá 200 tỷ đồng hoặc nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, đồng thời không thuộc nhóm siêu nhỏ hoặc nhỏ

Không quá 100 lao động và doanh thu không quá 300 tỷ đồng hoặc nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, đồng thời không thuộc nhóm siêu nhỏ hoặc nhỏ

Cấu trúc này cho thấy các nhóm không phải những khoảng độc lập chỉ dựa vào một con số. Chẳng hạn, doanh nghiệp nhỏ phải không còn thuộc nhóm siêu nhỏ; tương tự, doanh nghiệp vừa phải không còn đáp ứng điều kiện của nhóm siêu nhỏ hoặc nhỏ. Đây là lý do cần kiểm tra các mức theo thứ tự thay vì chỉ đối chiếu một ngưỡng cao nhất.

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng đặt giới hạn tổng quát cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa là không quá 200 lao động tham gia BHXH bình quân năm và đáp ứng một trong hai tiêu chí tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng; Chính phủ quy định chi tiết các mức theo từng lĩnh vực.

Cùng một số lao động nhưng quy mô có thể khác nhau theo ngành

Sự khác biệt giữa các lĩnh vực là một trong những nguyên nhân khiến việc phân loại theo quy mô dễ bị hiểu sai. Ví dụ, một doanh nghiệp thương mại có 80 lao động không thể được xem xét theo cùng ngưỡng lao động với một doanh nghiệp sản xuất công nghiệp có 80 lao động.

Đối với nhóm thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp nhỏ chỉ được sử dụng không quá 50 lao động tham gia BHXH bình quân năm, trong khi doanh nghiệp nhỏ thuộc công nghiệp và xây dựng có giới hạn đến 100 lao động. Ở cấp doanh nghiệp vừa, hai giới hạn tương ứng là 100 và 200 lao động.

Cơ chế này cũng giải thích tại sao “doanh nghiệp đô thị” không thể có một ngưỡng chung chỉ dựa vào địa bàn. Hai doanh nghiệp cùng nằm trong một thành phố nhưng một đơn vị kinh doanh bán lẻ và một đơn vị sản xuất công nghiệp có thể phải đối chiếu với những ngưỡng khác nhau.

Theo Nghị định 80/2021/NĐ-CP, lĩnh vực được dùng để xác định quy mô là ngành, nghề kinh doanh chính mà doanh nghiệp đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh. Đây là điểm cần kiểm tra trước khi áp dụng bảng ngưỡng.

Doanh nghiệp lớn nằm ở đâu trong cách phân loại?

“Doanh nghiệp lớn” cần được hiểu thận trọng hơn ba nhóm còn lại. Trong phân tích và thống kê doanh nghiệp, nhóm lớn có thể được sử dụng như cấp quy mô thứ tư; các công bố của cơ quan thống kê từng tách riêng doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ.

Tuy nhiên, Nghị định 80/2021/NĐ-CP là văn bản quy định về doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên Điều 5 chỉ đưa ra ngưỡng pháp lý cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Phụ lục xác định quy mô của Nghị định cũng yêu cầu doanh nghiệp lựa chọn một trong ba mức này.

Do đó, không nên diễn giải rằng pháp luật này thiết lập một ngưỡng duy nhất và phổ quát cho “doanh nghiệp lớn”. Khi một doanh nghiệp không đáp ứng giới hạn của doanh nghiệp vừa, kết luận chắc chắn trong phạm vi Nghị định 80 là doanh nghiệp đó không thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa theo bộ tiêu chí này. Việc gọi doanh nghiệp đó là “lớn” còn phải xét mục đích thống kê, nghiên cứu hoặc quy định chuyên ngành đang được sử dụng.

Sự phân biệt này giúp tránh một nhầm lẫn phổ biến: bốn nhóm siêu nhỏ – nhỏ – vừa – lớn là cách mô tả đầy đủ phổ quy mô, nhưng ba nhóm siêu nhỏ – nhỏ – vừa mới là các cấp được Nghị định 80 lượng hóa trực tiếp để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Cách xác định quy mô doanh nghiệp hoạt động tại đô thị

Đối với một doanh nghiệp cụ thể đang hoạt động trong thành phố, có thể xác định quy mô theo trình tự sau:

1.    Xác định ngành, nghề kinh doanh chính đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh

2.    Xác định số lao động tham gia BHXH bình quân năm

3.    Xác định tổng doanh thu và tổng nguồn vốn theo dữ liệu tài chính phù hợp

4.    Đối chiếu từ nhóm siêu nhỏ đến nhỏ rồi đến vừa theo đúng lĩnh vực

5.    Nếu không đáp ứng ngưỡng doanh nghiệp vừa, xác định rằng doanh nghiệp nằm ngoài phạm vi DNNVV của bộ tiêu chí này trước khi sử dụng một chuẩn khác để gọi là doanh nghiệp lớn

Nghị định 80 quy định tổng doanh thu của năm được xác định từ doanh thu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ trên báo cáo tài chính của năm trước liền kề. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động dưới một năm hoặc chưa phát sinh doanh thu, tiêu chí tổng nguồn vốn được sử dụng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ví dụ, một doanh nghiệp bán lẻ tại đô thị có 40 lao động tham gia BHXH bình quân năm và doanh thu 80 tỷ đồng, nếu không thuộc mức siêu nhỏ, có thể đáp ứng giới hạn của doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ vì ngưỡng tương ứng là không quá 50 lao động và doanh thu không quá 100 tỷ đồng. Ngược lại, khi đánh giá một doanh nghiệp công nghiệp, phải sử dụng bộ ngưỡng dành cho công nghiệp và xây dựng chứ không áp dụng ngưỡng thương mại – dịch vụ.

Như vậy, yếu tố “đô thị” chủ yếu mô tả không gian hoạt động của doanh nghiệp, còn “quy mô” phải được xác định bằng các tiêu chí kinh tế và lao động thích hợp. Hai khái niệm này không nên được đồng nhất.

Doanh nghiệp đô thị xét theo quy mô có thể được mô tả bằng bốn nhóm cơ bản: siêu nhỏ, nhỏ, vừa và lớn. Trong đó, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành lượng hóa cụ thể ba nhóm siêu nhỏ, nhỏ và vừa dựa trên ngành nghề kinh doanh chính, lao động tham gia BHXH bình quân năm và doanh thu hoặc nguồn vốn. Vì vậy, muốn phân loại chính xác một doanh nghiệp hoạt động tại đô thị, cần đối chiếu các chỉ tiêu thực tế với ngưỡng của đúng lĩnh vực thay vì chỉ căn cứ vào số lao động, địa điểm đặt doanh nghiệp hoặc cách gọi “nhỏ – vừa – lớn” theo cảm tính.

12/08/2026 07:29:29
GỬI Ý KIẾN BÌNH LUẬN